Thời tiết Hữu Lũng

Binh boong

Báo mới

Ngày tháng thoi đưa


Máy tính bỏ túi

Tài nguyên dạy học

Cười hở mười...........

Ảnh ngẫu nhiên

Images_119.jpg Diendanhaiduongcom19072_24.jpg Nguyet_thuc_VTV.flv Nguyet_thuc_toan_phan_dai_nhat_the_ky.flv Khinh_khi_cau_vn1.flv Khinh_khi_cau_vn.flv Su_no_vi_nhiet_cua_chat_khi1.flv 0484023001334775809.jpg Picture1.jpg Khinh_khi_cau.flv Nguyet_thuc_ngay_21122010_.flv Cac_tat_cua_mat.flv Nhat_thuc_toan_phan_.flv Dong_dien_trong_kim_loai4.flv Cau_tao_cua_mat.swf Dong_dien_trong_kim_loai.swf Nguyet_thuc3.flv Cau_tao_mat.flv 314414_126847414091704_100002993374087_130166_459212029_n.jpg SDC115211.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ai đang thăm nhà tôi

    1 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Hoàng Việt Hồng)

    Sắp xếp dữ liệu

    Chân trời tri thức

    "DẠY TỨC LÀ HỌC HAI LẦN." - G.Guibe

    Chào mừng quý vị đến với THƯ VIỆN TOÁN-LÝ-CNTT - Hoàng Việt Hồng.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Các loại nhạc cụ >

    Đàn tính (Tính tẩu)

                                                        1

             Tính tẩu (hay tinh tẩu) là nhạc cụ khảy dây được dùng phổ biến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như người Thái, người Tày, Nùng ... Ở vài vùng thuộc Trung Quốc, Lào, và Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này. Trong tiếng Thái, tính có nghĩa là đàn, còn tẩu là bầu (quả bầu), dịch ra tiếng Việt, tính tẩu có nghĩa là đàn bầu. Để khỏi nhầm lẫn với loại đàn bầu của người miền xuôi, nhiều người gọi tính tẩu là đàn tính nhưng nếu dịch ra “đàn đàn” thì sai. Do đó chỉ cần hiểu đàn tính là cách gọi tắt của đàn tính tẩu.

    Đối với dân tộc Thái tính tẩu là nhạc cụ chính, dùng để độc tấu, đệm hát và chơi giai điệu múa. Các chàng trai người Thái vừa đàn tính tẩu vừa múa bằng nhạc cụ này. Khi đệm hát, tính tẩu thường chơi giai điệu của lời ca. Trong nhạc múa tính tẩu có những bài bản riêng.

    Tính tẩu thuộc bộ dây, âm vực có thể đạt tới 3 quãng tám. Tuy nhiên người diễn chỉ sử dụng những âm trong vòng 2 quãng tám và một vài âm hơn nữa.

                                  1

    Tính tẩu có những bộ phận chính như sau :

    • Bầu vang (bộ phận tăng âm): làm bằng nửa quả bầu khô (cắt ngang). Kích cỡ bầu vang có thể thay đổi tùy theo quả bầu lớn nhỏ, song đường kính thường tư 15 đến 25cm. Để có độ vang, âm sắc chuẩn người ta thường chọn quả bầu tròn và dày đều để làm bầu vang. Mặt đàn thường làm bằng gỗ cây ngô đồng xẻ mỏng khoảng 3mm. Trên mặt đàn có khoét 2 lỗ hình hoa thị để thoát âm (trước kia 2 lỗ hoa thị được khoét ở phía sau bầu đàn). Ngựa đàn tương đối nhỏ nằm trên mặt đàn.
    • Cần đàn: bằng gỗ, thường là gỗ dâu hay gỗ thừng mục, nhẹ và thẳng. Cần đàn dài khoảng 9 nắm tay của người chơi đàn. Theo kinh nghiệm dân gian, “số đo” cỡ nào thì hợp với cỡ giọng hát của người có số đo ấy. Phần dưới của cần đàn xuyên qua bầu vang, còn phần trên cùng là đầu đàn uốn cong hình lưỡi liềm hoặc đầu rồng, đầu phượng … Mặt cần đàn trơn, không có phím như đàn tam. Hốc luồn dây có 2 hoặc 3 trục dây.
    • Dây đàn: trước đây làm bằng tơ xe, nay là nilon. Tính tẩu có loại 2 dây và loại 3 dây tùy theo từng vùng và từng chức năng âm nhạc. Loại mắc 2 dây phổ biến ở Thái, Tày, thường được chỉnh cách nhau 1 quãng bốn đúng hay quãng năm tùy theo hàng âm của giai điệu hoặc bài nhạc múa. Loại có 3 dây thường do người Tày sử dụng. Họ thêm 1 dây trầm giữa 2 dây kia. Âm thanh của dây trầm thấp hơn dây cao 1 quãng tám đúng. Loại 3 dây được gọi là tính then (đàn then) thường dùng trong nghi lễ Then để phân biệt với loại 2 dây là tinh tẩu dùng để đệm hát và múa.

    Tính tẩu có âm sắc êm dịu, thanh thoát. Khi phát ra âm cao nó gần giống với tiếng đàn tam. Lúc sản xuất âm trầm nó cho người nghe cảm giác hơi mờ ảo.

    Theo cách đánh đàn xưa, người diễn không dùng que khảy mà chỉ khảy bằng ngón tay trỏ của tay phải. Ngón cái và giữa giữ cần đàn ở nơi gần sát bầu đàn. Ngón trỏ khảy xuống và hất lên luân phiên khi chơi giai điệu nhanh. Còn nếu giai điệu chậm thì ngón trỏ chỉ khảy xuống.

    Kỹ thuật tay phải gồm có ngón vê, ngón phi và đánh âm nền … Riêng về tay trái gồm có các thế bấm như ngón rung, ngón vuốt, ngón vê, ngón phi, ngón luyến và âm bội.

    Trong thập niên 1970, một số nghệ nhân đã thể nghiệm cải tiến đàn tính tẩu bằng cách lắp thêm dây vào cần đàn (khoảng 4, 5 dây). Do yếu tố này họ phải làm cần đàn và bầu đàn lớn hơn khiến ngón bấm khó chính xác. Một số người lại dùng que khảy thay đầu ngón tay. Kết quả âm sắc không giống đàn tính tẩu gốc mà lại giống đàn banjo (loại alto). Một số người khác thay gỗ để làm bầu đàn, âm thanh phát ra đanh và khô không đẹp như bầu đàn quả bầu khô. Nhìn chung, những cách cải tiến kể trên không gặt hái thành công.

    CÙNG THỂ LOẠI:

    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Việt Hồng @ 10:52 22/06/2009
    Số lượt xem: 1303
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Học mà không suy nghĩ...

    "Học mà không suy nghĩ thì vô ích; Suy nghĩ mà không học thì có hiểm nghèo". - Khổng Tử

    CHÂN TRỜI TRI THỨC

    "CHÂN TRỜI TRI THỨC- HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI" Hoàng Việt Hồng, Trường THCS Minh Hòa, Hữu Lũng, Lạng Sơn.