Thời tiết Hữu Lũng

Binh boong

Báo mới

Ngày tháng thoi đưa


Máy tính bỏ túi

Tài nguyên dạy học

Cười hở mười...........

Ảnh ngẫu nhiên

Images_119.jpg Diendanhaiduongcom19072_24.jpg Nguyet_thuc_VTV.flv Nguyet_thuc_toan_phan_dai_nhat_the_ky.flv Khinh_khi_cau_vn1.flv Khinh_khi_cau_vn.flv Su_no_vi_nhiet_cua_chat_khi1.flv 0484023001334775809.jpg Picture1.jpg Khinh_khi_cau.flv Nguyet_thuc_ngay_21122010_.flv Cac_tat_cua_mat.flv Nhat_thuc_toan_phan_.flv Dong_dien_trong_kim_loai4.flv Cau_tao_cua_mat.swf Dong_dien_trong_kim_loai.swf Nguyet_thuc3.flv Cau_tao_mat.flv 314414_126847414091704_100002993374087_130166_459212029_n.jpg SDC115211.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ai đang thăm nhà tôi

    21 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Hoàng Việt Hồng)

    Sắp xếp dữ liệu

    Chân trời tri thức

    "DẠY TỨC LÀ HỌC HAI LẦN." - G.Guibe

    Chào mừng quý vị đến với THƯ VIỆN TOÁN-LÝ-CNTT - Hoàng Việt Hồng.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Lịch sử Toán học >

    Lịch sử toán học (Kỳ 4)

    TOÁN HỌC TRUNG HOA

    TOÁN HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI (khoảng 1300 TCN-200 SCN)

    Cửu chương toán thuật

          Bắt đầu từ thời nhà Thương (1600 TCN— 1046 TCN), toán học Trung Quốc sớm nhất còn tồn tại bao gồm các số được khắc trên mai rùa [3] [4]. Các số này sử dụng hệ cơ số 10, vì vậy số 123 được viết (từ trên xuống dưới) bằng một kí hiệu cho số 1 rồi đến một kí hiệu hàng trăm, sau đó là kí hiệu cho số 2 rồi đến kí hiệu hàng chục, sau đó là số 3. Đây là hệ cơ số tiến bộ nhất trên thế giới vào thời điểm đó và cho phép tính toán được thực hiện bởi bàn tính. Thời điểm phát minh ra bàn tính không rõ, nhưng tài liệu cổ nhất vào 190 trong Lưu ý về the Art of Figures viết bởi Xu Yue. Bàn tính có thể đã được sử dụng trước thời điểm này.

          Ở Trung Quốc, vào 212 TCN, vua Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh đốt tất cả sách trong nước. Cho dù lệnh này không được tuân thủ hoàn toàn, nhưng ta vẫn biết rất ít về toán học Trung Hoa cổ đại.

          Từ triều Tây Chu (từ 1046), công trình toán học cổ nhất còn tồn tại sau cuộc đốt sách là Kinh Dịch, trong đó sử dụng 64 quẻ 6 hào cho mục đích triết học hay tâm linh. Các hào là các bộ hình vẽ gồm các đường gạch đậm liền hoặc đứt nét, đại diện cho dương và âm.

    Sau cuộc đốt sách, nhà Hán (202 TCN) - 220 đã lập các công trình về toán học có thể là phát triển dựa trên các công trình mà hiện nay đã mất. Phần quan trọng nhất trong số đó là Cửu chương toán thuật, tiêu đề của nó xuất hiện trước 179 SCN, nhưng là nằm trong các tiêu đề khác tồn tại trước đó. Nó bao gồm 264 bài toán chữ, chủ yếu là nông nghiệp, thương nghiệp, áp dụng của hình học để đo chiều cao và tỉ lệ trong các chùa chiền, công trình, thăm dò, và bao gồm các kiền thức về tam giác vuông và số π. Nó cũng áp dụng nguyên lí Cavalieri về thể tích hơn một nghìn năm trước khi Cavalieri đề xuất ở phương Tây. Nó đặt ra chứng minh toán học cho Định lý Pythagore, và công thức toán học cho phép khử Gauss. Công trình này đã được chú thích bởi Lưu Huy (Liu Hui) vào thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên.

          Ngoài ra, các công trình toán học của nhà thiên văn học, nhà phát minh Trương Hành (Zhang Heng, 78-139) đã có công thức cho số pi, khác so với tính toán của Lưu Huy. Trương Hành sử dụng công thức của ông cho số pi để tính thể tích hình cầu V theo đường kính D.

    V=\tfrac{9}{16}D3 + \tfrac{1}{16}D3 = \tfrac{5}{8}D3

    Người Trung Quốc cũng sử dụng biểu đồ tổ hợp phức còn gọi là 'hình vuông thần kì', được mô tả trong các thời kì cổ đại và được hoàn chỉnh bởi Dương Huy (1238-1398).

     

    Toán học Trung Hoa cổ điển (khoảng 400-1300)

          Tổ Xung Chi (Zu Chongzhi) (thế kỉ 5) vào thời Nam Bắc Triều đã tính được giá trị của số π chính xác tới bảy chữ số thập phân, trở thành kết quả chính xác nhất của số π trong gần 1000 năm.

    Tam giác Pascal

          Trong hàng nghìn năm sau nhà Hán, bắt đầu từ nhà Đường và kết thúc vào nhà Tống, toán học Trung Quốc phát triển thịnh vượng, nhiều bài toán phát sinh và giải quyết trước khi xuất hiện ở châu Âu. Các phát triển trước hết được nảy sinh ở Trung Quốc, và chỉ rất lâu sau mới được biết đến ở phương Tây, bao gồm số âm, định lý nhị thức, phương pháp ma trận để giải hệ phương trình tuyến tính và Định lý số dư Trung Quốc về nghiệm của hệ phương trình đồng dư bậc nhất.

    • Số âm được đề cập đến trong bảng cửu chương từ thời nhà Hán, 200TCN.
    • Định lý nhị thức và tam giác Pascal được Yang Hui nghiên cứu từ thế kỷ 13.
    • Ma trận được người Trung Quốc nghiên cứu và thành lập bảng ma trận từ những năm 650 TCN.

          Người Trung Quốc cũng đã phát triển tam giác Pascal và luật ba rất lâu trước khi nó được biết đến ở châu Âu. Ngoài Tổ Xung Chi ra, một số nhà toán học nổi tiếng ở Trung Quốc thời kì này là Nhất Hành, Shen Kuo, Chin Chiu-Shao, Zhu Shijie, và những người khác. Nhà khoa học Shen Kuo sử dụng các bài toán liên quan đến giải tích, lượng giác, khí tượng học, hoán vị, và nhờ đó tính toán được lượng không gian địa hình có thể sử dụng với các dạng trận đánh cụ thể, cũng như doanh trại giữ được lâu nhất có thể với lượng phu có thể mang lương cho chính họ và binh sĩ.

    Thậm chí sau khi toán học Châu Âu bắt đầu nở rộ trong thời kì Phục hưng, toán học Châu Âu và Trung Quốc khác nhau về truyền thống, với sự sụt giảm của toán học Trung Quốc, cho tới khi các nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo mang các ý tưởng toán học tới và đi giữa hai nền văn hóa từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18.

                                                                Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    CÙNG THỂ LOẠI

     

    XEM BÀI KHÁC

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Việt Hồng @ 14:22 28/06/2009
    Số lượt xem: 1146
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Học mà không suy nghĩ...

    "Học mà không suy nghĩ thì vô ích; Suy nghĩ mà không học thì có hiểm nghèo". - Khổng Tử

    CHÂN TRỜI TRI THỨC

    "CHÂN TRỜI TRI THỨC- HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI" Hoàng Việt Hồng, Trường THCS Minh Hòa, Hữu Lũng, Lạng Sơn.